Bạn đang đọc 10 trang đầu của tài liệu. Vui lòng đăng nhập để đọc toàn bộ.

Đột biến nhiễm sắc thể

Người gửi: khongten
201 lượt xem | 0 lượt tải | Ngày đăng: 08/11/2012
Bình luận qua Facebook | RingRing
Trích dẫn nội dung
Tên đề tài : Đột biến nhiễm sắc thể A. NHIỄM SẮC THỂ – NST I. Hình thái và cấu trúc Ở sinh vật nhân thực, từng phân tử ADN được liên kết với các loại protein khác nhau (chủ yếu là histon) tạo nên cấu trúc được gọi là NST (thể bắt màu với thuốc nhuộm kiềm tính) Các protein khác tham gia hình thành cấu trúc NST được gọi chung là protein phi histon. Ở vi khuẩn thật – eubacteria (trong chương trình phổ thông được hiểu là sinh vật nhân sơ đơn thuần) ADN tuy không liên kết với protein histon (trần) nhưng có liên kết với các protein phi histon khác. Tuy nhiên, đôi khi người ta cũng coi vi khuẩn với ADN trần dạng vòng là 1 NST của vi khuẩn. Ở vi khuẩn cổ – archaea (cũng là sinh vật nhân sơ, nhưng có nhiều đặc điểm khác biệt – được tính riêng là 1 lãnh giới – sgk 10) ADN ở vài loài có liên kết với protein histon. Ở phần lớn các loài, NST thường tồn tại thành từng cặp tương đồng, giống nhau về hình thái, kích thước và vị trí tương ứng của gen (locut gen) nhưng không giống nhau về gen. Riêng NST giới tính có thể tồn tại riêng lẻ, tương đồng hoặc không tương đồng. Mỗi loài có bộ NST đặc trưng về số lượng, hình thái và cấu trúc. Tuy nhiên số lượng NST trong bộ NST không phản ánh mức độ tiến hóa của loài. 1. Cấu trúc hiển vi của NST.Cấu trúc hiển vi được hiểu là cấu trúc quan sát được dưới kính hiển vi thông thường. Cấu trúc này được nhìn rõ nhất khi làm tiêu bản NST của tế bào trong kì giữa của chu kì tế bào. Khi đó NST tồn tại dưới dạng sợi kép với 2 cánh là 2 cromatit. Mỗi NST chứa 3 trình tự nucleotit đặc biệt: ã Tâm động: vị trí liên kết với thoi phân bào (và cũng là vị trí được nhân đôi sau cùng) ã Trình tự đầu mút: trình tự lặp lại đặc biệt giúp bảo vệ NST ã Trình tự khởi đầu tái bản: trình tự mà tại đó ADN được bắt đầu nhân đôi NST thường có các phần bắt màu đậm (dị nhiễm sắc – là vùng đóng xoắn chặt, thường ở vùng này gen không được phiên mã) và vùng bắt màu nhạt hơn (nguyên nhiễm sắc – là vùng có tháo xoắn, thường xảy ra sự phiên mã gen tương ứng) 2. Cấu trúc siêu hiển vi của NST:Trình bày mức độ cuộn xoắn từ ADN -> NST với sự hỗ trợ của nhiều loại protein. Các loại protein tham gia đóng gói NST: ã 8 protein histon trong nucleoxom: H2A, H2B, H3, H4 – mỗi loại có 2 phân tử. ã protein giữa các nucleoxom: H1 II. Chức năng của NST: ã Lưu trữ, bảo quản và truyền đạt thông tin di truyền: ã Điều hòa hoạt động của các gen thông qua mức độ cuộn xoắn của NST. ã Giúp tế bào phân chia đều vật chất di truyền vào tế bào con ở pha phân bào. B. ĐỘT BIẾN NST(CHROMOSOME ABERRATION) Các nhà di truyền học tế bào bằng kỹ thuật phân tích kiểu nhân(caryotype) ở nguyên phân(mitosis) và giảm phân(meiosis) của nhiều cơ thể thường và cơ thể đột biến đã phát hiện ra các đột biến nhiễm sắc thể.Các đột biến có thể là sai lệch về số lượng NST trong bộ, hoặc là sai lệch về cấu trúc của từng NST trong bộ. Đột biến NST có 2 dạng: Đột biến cấu trúc NST và đột biến số lượng NST I.Đột biến cấu trúc NST: Là những biến đổi trong cấu trúc của NST. Đột biến này thực chất là sự sắp xếp lại những khối gen trên và giữa các NST, được phát hiện nhờ phương pháp nhuộm băng NST (tiêu bản NST). Các tác nhân vật lý như các tia phóng xạ, tác nhân hóa học và các tác nhân sinh học như virus có thể gây ra đột biến dạng này. Gồm 4 dạng: mất đoạn, lặp đoạn, đảo đoạn và chuyển đoạn. Mất đoạn Mất đoạn làm giảm số lượng gen trên NST. Mất đoạn thường gây chết và giảm sức sống hoặc mất các tính trạng tương ứng. Do đó người ta ứng dụng đột biến mất đoạn để loại khỏi NST những gen không mong muốn hoặc xác định vị trí của gen trên NST -> lập bản đồ gen. ( Hội chứng “mèo kêu” (mất đoạn nst số 5) Lặp đoạn Đột biến lặp đoạn là một đoạn nhiễm sắc thể được lặp lại 1 hay nhiều lần so với bình thường.Cơ chế phát sinh:một đoạn
Đăng nhập tài khoản